Thứ bảy 13/10/2018

Cây Đương Quy cùng 31 bài thuốc, 3 món ăn và 3 cách ngâm rượu

Đặng Đình Quyết Cây Thuốc Quý

Đương quy có tính ôn, vị ngọt, cay, tác dụng hoạt huyết, bổ huyết, hoạt trường, nhuận táo, thông kinh, điều huyết. Chữa chứng thiếu máu, cơ thể suy nhược, đau ở rốn, kinh nguyệt không đều, đẻ xong máu hôi chảy mãi không đều,… và rất nhiều bệnh khác nữa. Trong y học, cây đương quy là loại thảo dược quý hiếm và được sử dụng thường xuyên trong các bài thuốc. Cụ thể như thế nào, chúng ta cùng tìm hiểu nội dung bài viết này.

Đương quy là cây gì

Còn được gọi với các tên khác như vân quy, tần quy. Có tên khoa học là Angelica sinensis (Oliv.) Diels và thuộc họ nhà Hoa tan apraceae (Umbelliferae).

đương quy là cây gì

Người ta sử dụng rễ cây phơi hoặc sấy khô. Quy nghĩa là về, vị thuốc này có tác dụng nuôi huyết, điều khí, làm cho huyết đang bị rối loạn trở về chỗ cũ nên mới có tên gọi như vậy.

Mô tả cây

Đương quy thuộc loại cây nhỏ, sống lâu năm, chiều cao từ 40-80cm, thân màu tím có rãnh mọc. Lá mọc so le, 2-3 lần xẻ lông chim, cuống lá dài từ 3-12cm, 3 đôi lá chét; 2 lá chét trên đỉnh không có cuống, 2 lá chét phía dưới có cuống dài, 2 lá chét còn lại xẻ 1-2 lần nữa, mép răng cưa, phía dưới cuống phát triển dài gần ½ cưa, ôm lấy thân. Mua màu xanh trắng rất nhỏ họp thành từng cụm gồm 12-40 hoa, hình tán kép. Ra hoa tầm tháng 7-8. Quả bế màu tím nhạt, có rìa.

Về phân bố, thu hái và chế biến

Hiện nay ta vẫn phải nhập đương quy từ Triều Tiên và Trung Quốc. Cũng đã triển khai trồng thí nghiệm nhiều lần nhưng chỉ mới thành công ở phạm vi nhỏ tại Sapa, chưa thể phổ biến rộng rãi.

Tuy nhiên gần đây người ta đã trồng thành công ở một số đồng bằng quanh Hà Nội do tận dụng tời tiết lạnh của mùa đông, tuy nhiên chất lượng không ổn định.

Bên Trung Quốc, người ta trồng đương quy nhiều nhất ở các tỉnh Tứ Xuyên, Cam Túc, Thiêm Tây, Vân Nam.

Mỗi năm gieo hạt vào mùa thu, sang cuối thu đầu đông nhổ cây con cho vào hố ở dưới đất đợi qua mùa đông. Sang xuân lại trồng, tới đông lại bảo vệ. Có thể thu hoạch vào mùa thu năm thứ 3. Đào rễ lên cắt bỏ rễ con, phơi khô trong nhà hoặc cho vào thùng sấy lửa nhẹ, sau đó phơi trong thoáng mát cho khô. Trên thị trường người ta phân biệt quy đầu là rễ chính và cổ rễ, quy thoái hay quy nhân là rễ phụ lớn hay phần dưới của rễ chính, quy vĩ là rễ phụ nhỏ. Phân biệt như vậy là bởi đông y cho rằng chất lượng của các loại rễ này có khác nhau, nhưng ở Trung Quốc người ta không quan trọng cả thị trường trong nước hay xuất khẩu. Toàn bộ rễ chính lẫn phụ đều được gọi là toàn quy.

cây đương quy

Về thành phần hóa học

Trong đương quy chứa tinh dầu. Có nghiên cứu xác định tinh dầu màu vàng sẫm, trong, tỷ lệ 0,02%, tỷ trọng 0,955 ở 15oC, tỷ lệ axit tự do chiếm 40%; tinh dầu có thành phần chủ yếu giống tinh dầu đương quy Nhật Bản (Thực vật dược phẩm hóa học của Lâm Khải Thọ, trang 384 và Dược học thông báo, 1954, trang 432.

Trong đương quy Nhật Bản Angelica acutiloba (Sieb. Et Zucc). Kitagawa Ligusticum acutilobum (Sieb. Et Zucc) chứa tinh dầu với thành phần chủ yếu gồm n-valerophenon O-cacboxy-axit C12H14O3 và n-bytylidenphtalit C12H12O2. Ngoài ra còn có becgapten C12H8O4, n-butylphtalit C12H14O2, safrola, sesquitecpen và 1 ít vitamin B12.

Về tác dụng dược lý

Từ lâu đương quy đã được nghiên cứu về mặt dược lý, dưới đây là một số tác dụng điển hình:

1. Tác dụng với tử cung và các cơ trơn. Gồm 2 tác dụng là gây ức chế và gây kích thích

Theo Schmidt, Trần Khắc Khôi và Y Bác An (1924 Chinese Med J. 38:362) cho rằng hoạt chất chiết từ toàn bộ vị đương quy (rượu nhẹ độ thấm kiệt hoặc dùng nước đun sắc), tiêm cho chó đã gây mê (tĩnh mạch) cho kết quả tử cung 10 con không chửa có 37,5% hiện tượng co, còn chó không chửa hoặc đẻ không lâu tới 100% hiện tượng co tử cung. Các cơ quan có cơ trơn khác như bàng quang, ruột cũng có hiện tượng đó, bên cạnh đó huyết áp hạ thấp và có công dụng lợi tiểu (là do tỷ lệ sacaroza cao).

Trường hợp sử dụng tinh thể chiết từ đương quy (không có đường, không có tính chất bay hơi và kiềm tính) tiêm vào tĩnh mạch con thỏ thì thấy sức co bóp tử cung tăng mạnh, nhưng không hạ huyết áp mà lại tăng cao. Nếu lấy tinh thể trên pha vào dung dịch Tyrốt 1/2.000.000, tiến hành thí nghiệm trên tử cung cô lập của thỏ thì xảy ra hiện tượng co bóp kéo dài, nếu là dung dịch tỷ lệ 1/100.000 thì có hiện tượng co bóp mạnh. Các tác giả đều cho rằng, tính chất kích thích này là do tác dụng trực tiếp lên cơ trơn.

Kinh nghiệm sử dụng trên lâm sàng cho thấy đương quy có công dụng làm dịu tử cung co quắp. Trong báo cáo của Triệu Túc Quân, Dương Đại Vọng (1948 Trung Hoa y học tạp chí 34:457) đương quy chữa thống kinh cho 129 bệnh nhân (kinh nguyệt đau đớn) tất cả đã sử dụng 257 lần thì thấy kết quả tốt, không xảy ra triệu chứng không tốt, lại làm gia tăng sự phát dục ở tử cung. Tác giả đề xuất 3 công dụng của đương quy:

(1) Ức chế sự co ở tử cung, làm giảm nghỉ sự căng của tử cung, trực tiếp giúp hành kinh không đau.

(2) Do cơ tử cung đươc giản nghỉ, khiến lưu thông huyết mạnh, từ đó cải thiện sự dinh dưỡng tại chỗ, giúp cho tử cung nhanh bình thường, gián tiếp trị chứng thống kinh.

(3) Tác dụng làm cho ruột trơn giúp chữa táo bón, làm giảm sung huyết tại vùng xương chậu từ đó tham gia làm giảm đau lúc kinh nguyệt.



2. Tác dụng trên hiện tượng thiếu vitamin E

Theo Nghê Chương Kỳ (1941. Chinese J. Physiol. 16; 373) lấy thức ăn thiếu vitamin E nuôi chuột từ 2-5 tháng, 100% chuột bị những chứng bệnh ở tinh hoàn do thiếu vitamin E; khi bổ sung thêm thức ăn chứa 5-6% đương quy thì 38% chuột không còn các triệu chứng thiếu vitamin E nữa. Các vị thuốc đan sâm, dâm dương hoắc, xuyên khung, tục đoạn cũng có công dụng tương tự. Nghê Chương Kỳ cho rằng sở dĩ nhân dân ta dung đương quy làm thuốc an thai phải chăng là do nguyên nhân trên.

3. Tác dụng lên trung khu thần kinh

Một tác giả Nhật Bản (Tửu tinh hòa thái lang, 1933) đã nghiên cứu và cho rằng tinh dầu đương quy có tác dụng trấn tĩnh hoạt động của đại não ban đầu thì hưng phấn trung khu tủy sống, sau thì tê liệt, dẫn đến huyết áp hạ thấp, nhiệt độ cơ thể hạ thấp, mạch đập chậm lại và sinh hiện tượng co quắp; trường hợp tiêm dưới da thỏ thì các hiện tượng trên không rõ rệt, chỉ làm liệt hô hấp trước, rồi mới đến liệt tim.

4. Tác dụng lên hô hấp và huyết áp

Theo Schmidt, Trần Khắc Khôi, Y Bác An (1924 Chinese Med. J. 38; 362) tinh dầu đương quy có công dụng hạ huyết áp, nhưng thành phần không bay hơi của nó lại có tính chất làm co cơ trơn ở thành mạch máu làm cho tăng cao huyết áp.

Trương Diệu Đức, Trương Phát Sơ, Lưu Thiệu Quang (1935 Trung Hoa y học tạp chí 21:611) đã theo dõi tác dụng của tinh dầu đương quy trên chó, mèo, thỏ đối với hô hấp và huyết áp thì tủy theo liều lượng lớn nhỏ mà tiêm tinh dầu vào mạch máu cho ra tác dụng khác nhau.

a) Liều nhỏ: Áp huyết hạ thấp, hô hấp hơi bị kích thích hoặc bị ảnh hưởng rất ít.

b) Liều trung bình: Hô hấp khó khăn, huyết áp hạ thấp nhiều hơn.

c) Liều lớn: Hô hấp khó khăn rõ rệt, cuối cùng ngừng hô hấp gây chết, huyết áp hạ rất mạnh.

Tác dụng làm hô hấp khó khăn trên thỏ ít hơn với chó và mèo, vì vậy có thể nói độ độc của đương quy đối với hô hấp và huyết áp rất thấp.

5. Tác dụng lên cơ tim

Theo Ngụy Liên Cơ (1950 sinh lý học báo 20 (2), 105-110 Trung văn) thì tác dụng lên tim của đương quy giống với quinidin. Thành phần chủ yếu có tác dụng này nằm ở trong phần tan trong ête êtylic.

6. Tác dụng kháng sinh

Vào năm 1950, báo cáo của Lưu Quốc Thanh về nước sắc đương quy có công dụng kháng sinh đối với tụ cầu trùng và trực trùng lỵ.

tác dụng của đương quy

Về công dụng và liều dùng đương quy

Theo đông ty đương quy có tính ôn, vị ngọt, cay. Vào 3 kinh là tâm, can, tỳ. Có công dụng hoạt huyết, bổ huyết, hoạt trường, nhuận táo, thông kinh, điều huyết.

Đương quy là vị thuốc rất phổ biến trong đông y. Nó là đầu vị trong các thuốc chữa bệnh phụ nữ, đồng thời sử dụng trong nhiều đơn thuốc bổ và trị bệnh khác.

Chủ yếu dùng để chữa bệnh kinh nguyệt không đều, thấy kinh đau bụng (uống trước 7 ngày thấy kinh). Mỗi ngày dùng từ 6-15g dưới dạng thuốc sắc (uống 2 lần mỗi ngày) hoặc thuốc rượu mỗi lần 10ml, uống ngày 3 lần trong 7-14 ngày. Ngoài ra còn làm thuốc bổ huyết, chữa thiếu máu, lạnh và đau nhức chân tay.

Đơn thuốc có đương quy trong đông y:

Bài thuốc tứ vật (tứ vật thang) gồm đương quy và thục địa 12g mỗi loại, xuyên khung và bạch thược 8g mỗi loại, săc với 600ml đến khi còn 1/3. Chia ra uống ngày 3 lần, giúp chữa chứng thiếu máu, kinh nguyệt không đều, cơ thể suy nhược, đẻ xong máu hôi chảy mãi không ngừng, đau ở rốn.

Những phụ nữ sau khi sinh đẻ mắc lắm bệnh có khi sử dụng bài tuốc tứ vật trên kết hợp thêm hắc đậu (đậu đen), hắc can khương, ngưu tất, trạch lan, bồ hoàng, ích mẫu.

Bài thuốc đương quy kiện trung thang của Trương Trọng Cảnh để chữa các bệnh phụ nữ như sau khi sinh bị thiết máu, làm thuốc bổ huyết: 7g đương quy, đại táo, sinh khương, quý chi 6g mỗi vị, 10g thược dược, 50g đường phèn, cho 600ml vào sắc còn 1/3, chia ra uống 3 lần trong ngày.

Chữa chứng chảy máu cam không ngừng: Dùng đương quy sao khô tán nhỏ, dùng mỗi lần 4g với 2-3 lần mỗi ngày. Sử dụng với nước cháo cho hiệu quả.

Làm viên dưỡng não (chữa chứng mất ngủ, ngủ hay mê, nhức đầu): Lấy 100g đương quy, 40g xương bồ, 40g viễn chí, 60g ngũ vị, 60g táo nhân, 40g dởm tinh, 80g khởi tử, 40g long cốt, 40g thiên trúc hoàng, 40g hổ phách, 60g ích trí nhân, 60g bá tử nhân, 80g nhục thung dung, 80g hồ đào nhục, 40g chu sa. Tất cả mang tán bột, trộn với mật ong viên mỗi hoàn 4g. Mỗi lần uống 1 viên, mỗi ngày 2 lần trong vòng 15 ngày.

Bài thuốc trên đã áp dụng và cho kết quả rất tốt ở bệnh viện Bạch Mai bao gồm mất ngủ khỏi 85%, ngủ mê đạt 77,22%, đau đầu đạt 79,59%, vàng đầu khỏi 78,65%.

Cần chú ý:

Trong đông y người ta phân biệt giữa quy đầu, quy thân và quy vĩ có công dụng là khác nhau. Mới đây người ta còn chứng minh tỷ lệ tinh dầu ở mỗi bộ phận này là khác nhau. Do vậy, kinh nghiệm của người xưa chắc chắn là có lý. Như chia sẻ ở phần trên, một số thầy thuốc xưa quan niệm: Theo Hoàng Cung Tú thì quy đầu có khả năng cầm máu đi lên, quy thân giúp nuôi huyết ở trung bộ, quy vĩ thì phá huyết đi xuống dưới. Toàn quy giúp hoạt huyết. Quy vị cay thì hay tán, người nào hư, hỏa thịnh nên kiêng; vị ngọt thì ủng tắc, người nào tỳ vị hư hàn chớ nên dùng, thể nhuận tinh hoạt, người nào tiết tả nên kiêng.

Một tác giả cổ là Chương Sơn Lôi cho rằng: Quy nhân chủ thủ có tác dụng bồi dưỡng, quy vĩ chủ thông có tác dụng công trục ứ, quy đầu có tính đi lên trên chữa các chứng niệu huyết (tiểu tiện ra huyết), tiện huyết hay hưu hiệu nhưng chữa thổ huyết, nục huyết (chảy máu cam) mà dùng thì có khác gì chắp cánh cho hổ, cho nên dùng thuốc phải sành chớ nên ngộ nhận 2 chữu chỉ huyết (cầm máu) mà hại người.

Tác dụng của đương quy qua các bài thuốc sưu tầm:

1. Chữa thiếu máu dẫn tới hoa mắt, chóng mặt, người gầy yếu, da dẻ xanh xao: Đương quy, thục địa, bạch thược, xuyên khung lấy 12g mỗi vị. Sắc uống mỗi ngày 1 thang, uống liên tục từ 3-4 tuần giúp thuyên giảm các triệu chứng trên.

2. Huyết và khí kém, người mệt mỏi, vô lực, gầy còm, da xanh xao: Lấy 12g đương quy và 40g hoàng kỳ. Sắc uống mỗi ngày 1 thang, uống liên tục từ 3-4 tuần.

Có thể dùng đương quy, bạch linh, nhân sâm (đảng sâm), bạch thược, thục địa, bạch truật 12g mỗi loại, 8g xuyên khung và 6g cam thảo. Sắc uống mỗi ngày 1 thang, uống liên tục từ 3-4 tuần. Có thể dùng dưới dạng viên bằng cách tán bột, viên tròn với mật ong để uống dài ngày.

3. Chữa đau bụng kinh, bế kinh: Đương quy, ngưu tất, sinh địa, xuyên khung, hồng hoa 6g mỗi loại, 8g chỉ xác, 4g sài hồ và 4g cam thảo. Sắc uống mỗi ngày 1 thang.

? Xem các cây thuốc trị đau bụng kinh: Ngải cứu, Lô hội hoặc Nghệ đen

4. Chữa các chứng xuất huyết: Đương quy, đại hoàng, bồ hoàng, a giao và hòe hoa 30g mỗi vị. Tất cả sao qua, tán bột, trộn với mật ong làm thành hoàn. Uống mỗi lần 10g, 2 lần mỗi ngày.

5. Điều trị tiêu hóa kém do tỳ hư dẫn tới cơ thể gầy yếu, khí huyết đều kém, kém ngủ, kém ăn: Đương quy, viễn trí và cam thảo 4g mỗi vị, hoàng kỳ, bạch truật, hắc táo và bạch linh 12g mỗi loại, mộc hương và đảng sâm 6g mỗi loại. Sắc thuốc uống mỗi ngày 1 thang.

6. Trị các chứng tý (đau, tê): Lấy 12g đương quy, 10g thương thuật, 8g quý chi, 10g ngưu tất, 6g cúc hoa. Cho vào 600ml nước sắc còn 200ml, chia uống làm 2 lần uống trong ngày.

7. Trị sốt rét lâu không khỏi: Lấy 12g đương quy, 12g miết giáp, 10g ngưu tất, gừng sống 3 lát (sinh khương). Và 6g hoàng cầm. Sắc uống ngày 2 lần.

8. Điều trị tâm huyết hư, không ngủ được: Lấy 12g đương quy, 10g viễn trí, 8g toan táo nhân, 10g phục thần, 10g nhân sâm. Sắc uống ngày 2 lần.

9. Chữa ra mồ hôi trộn: Lấy 12g đương quy, 8g sinh địa, 10g hoàng kỳ, 6g hoàng cầm, 8g thục địa, 6g hoàng bá, 6g hoàng liên. Sắc uống ngày 2 lần.

10. Bị vấp ngã gây đau: Lấy 12g đương quy, 10g ngưu tất, 10g tục đoạn, 10g địa hoàng, 12g đỗ trọng, 2g vảy sừng hươu, một thìa cà phê quê bột. Cho lượng nước vừa đủ sắc uống nóng.

11. Bị bại liệt tứ chi và đau cột sống: Lấy 40g đương quy, 12g tục đoạn, 4g tế tân, 12g độc hoạt, 12g đỗ trọng, 12g chỉ xác, 8g lưu kỳ nô và 4g cam thảo. Cho thêm 300ml sắc còn 1/3, chia ra uống 2 lần sáng và tối.

12. Chữa bệnh động mạch vành: Lấy 10g đương quy, 15g ngó sen, 90g sơn tra và 6g rễ hành. Cho vào nồi với nước nấu canh uống 2 lần trong ngày vào sáng và tối.

13. Chữa bệnh viêm tiền liệt tuyến: Lấy 15g đương quy, 15g hạt vải, 50g thịt dê và 15g hạt quýt. Nấu lên ăn phần thịt và uống nước. Tuần làm 2 lần.

Hoặc có thể dùng 8g đương quy, 5g trạch lan và 25g lá hành sắc uống thay trà hàng ngày.

14. Trị nám da, tàn nhang và làm trắng da: Lấy đương quy, đậu xanh, bạch chỉ, hạnh nhân, bạch cập, hoài sơn mỗi vị 50g cho vào trong lọ trộn đều. Mỗi lần dùng lấy ra 1 thìa cho vào chén, thêm 2 giọt tinh dầu hoa hồng vào trộn lẫn. Chấm bằng chổi trang điểm thoa đều lên mặt làm mặt nạ. Để khoảng 20-30 phút thì rửa sạch bằng nước. Mỗi tuần làm khoảng 2 lần. Cách làm này rất thích hợp cho người có da bị thô, nhão, lão hóa.

15. Chữa huyết thượng hành công tim sau khi sinh đẻ: Lấy 16g đương quy, 14g ích mẫu, 10g bồ hoàng, 12g hồng hoa và 14g ngưu tất. Sắc nước uống mỗi ngày 1 thang.

16. Trị đẻ khó, ngôi thai ngược: Lấy 20g đương quy, 16g nhân sâm và 16g xuyên khung. Sắc nước thuốc uống mỗi ngày 1 thang.

17. Chữa thiếu máu khi mang thai, động thai, người đã từng bị lưu thai: Lấy 50g mỗi loại gồm đương quy, bạch thược, xuyên khung, hoàng cầm và 25g bạch truật. Viên thành bột mỗi ngày dùng 6g sau bữa ăn.

18. Phụ nữ khó có con do huyết bế: Lấy 16g đương quy, 8g bạch giao, 14g địa hoàng, 12g đỗ trọng, 12g thược dược và 8g tục đoạn. Sắc uống ngày 1 thang.19. Chữa mất máu do sau sinh mát máu, bị thương, băng huyết: Lấy 80g đương quy và 40g xuyên khung trộn lẫn với nhau. Dùng 20g hỗn hợp trên với 2 bát nước và 1 bát rượu trắng, sắc đến khi còn 1/2, ngày uống 2 lần trước bữa ăn.

20. Phụ nữ có thai bị đau: Lấy 120g đương quy, 600g thược dược, 160g phục linh, 120g xuyên khung, 160g bạch truật và 300g trạch tả. Tất cả đem tán bột mịn, cho vào lọ để dùng dần. Mỗi lần dùng lấy ra 1 thìa cà phê pha với rượu chia làm 3 lần uống trong ngày.

21. Phụ nữ có thai, bí tiểu: Lấy đương quy, xuyên bối mẫu và khổ sâm mỗi vị bằng nhau, nghiền nhỏ rồi viên với mật ong cỡ bằng hạt đậu. Mỗi ngày uống 3 viên một lần, sau tăng lên 10 viên.

22. Chữa viêm gan mạn tính: Lấy 15 đương quy, 15g đảng sâm, một con gà mái. Cho các vị thuốc trên vào bụng gà đã làm sách bỏ nội tạng. Cho tất cả vào nồi, thêm nước và gia vị mà ninh nhừ, ăn cả cái lẫn nước trong ngày.

23. Loạn kinh nguyệt: Phối hợp đương quy với sinh địa hoàng, hoàng kỳ và bạch thược dưới dạng tứ vật thang.

24. Kinh nguyệt ít: Phối hợp đương quy với xuyên khung, bạch thược và sinh địa hoàng dưới dạn tứ vật thang.

25. Vô kinh: Phối hợp đương quy với hồng hoa và đào nhân.

26. Chảy máu tử cung: Phối hợp đương quy với sinh địa hoàng, ngải diệp và a giao.

27. Các hội chứng do thiếu máu: Phối hợp đương qui với hoàng kỳ, sinh địa hoàng và bạch thược dưới dạng tứ vật thang.

28. Đau do ứ máu:

28.1. Do chấn thương ngoài: Phối hợp đương quy với nhũ hương, táo nhân, hồng hoa và một dược.

28.2. Đau bụng sau đẻ: Phối hợp đương qui với xuyên khung, táo nhân và ích mẫu thảo.

28.3. Do nhọt và hậu bối: Phối hợp đương qui với liên kiều, kim ngân, xích thược và mẫu đơn bì.

28.4. Ứ chệ phong thấp (đau khớp): Phối hợp đương qui với kích huyết đằng, bạch thược và quế chi.

Các món ăn từ đương quy

1. Món tim lợn hầm đương qui giúp chữa bệnh hôi nách hiệu quả

Nguyên liệu: Một quả tim heo, 500g đương quy, 20g đẳng sâm, rượu nếp, một củ gừng và các gia vị khác.

Các nấu: Rửa sạch tim lợn để ráo nước, bổ 1 bên trần qua bằng nước nóng già. Tráng với rượu nếp 40 độ để khử mùi tanh và rửa sạch máu còn sót lại. Rửa sạch đương qui và đẳng sâm rồi nhét vào bên trong tim lợn rồi ghim lại bằng tăm tre. Cho vào nồi, thêm vài lát gừng, tỏi, hành, 1 ít rượu với nước rồi hầm. Khi tim chính mềm, lấy đương quy, đẳng sâm ra phía ngoài tim (vẫn trong nồi) rồi nêm gia vị vừa ăn. Khi ăn cả tim, đương quy lẫn đẳng sâm giúp tăng hiệu quả.

tim lợn hầm đương quy

2. Món gà ác hấp cách thủy để bồi bổ cơ thể

Nguyên liệu: Một con gà ác nặng 200g, 30g đương qui, 15g kỷ tử, 30g hoàng kỳ và 5 quả táo đỏ.

Cách nấu: Gà ác rửa sạch, mổ bụng bỏ nội tạng, rửa lại cho sạch. Rửa sạch 3 nguyên liệu kia rồi nhét vào bụng gà cùng gia vị vừa ăn. Hấp cách thủy tới khi chín mềm. Khi ăn bỏ bã thuốc, chỉ ăn gà với nước canh. Mỗi tuần ăn 1 lần, ăn 3 tháng sẽ giúp bồi bổ cơ thể và gia tăng sức khỏe.

gà áp hấp đương quy

3. Món lá đương qui xào: Dùng lá non xào với thịt ăn rất thơm ngon có mùi thơm giống cần tây.

Đương quy ngâm rượu

Dùng đương qui tươi ngâm rượu 40 độ với tỷ lệ 1kg ngâm với 4 lít rượu. Ngâm 100 ngày là có thể dùng, mỗi lần dùng 15-20ml, mỗi ngày 1 lần. Lưu ý người bị đi ngoài hay phân lỏng không được dùng. Dưới đây là 3 bài thuốc ngân rượu mời bạn tham khảo:

rượu đương quy

1. Tửu đương qui

Đương qui thái lát, phun rượu lên đều, ủ qua, sao đến khi khô bằng lửa nhỏ, xong để nguội. Ngâm tỷ lệ 1kg với 10 lít rượu. Độ 100 ngày là dùng được.

2. Nâng cao thể trạng, chữa mất ngủ, mệt mỏi, giúp ăn ngon

Lấy 60g mỗi vị gồm đương quy, bạch truật, hoàng kỳ và đẳng sâm ngâm với 5 lít rượu. Ngâm 100 ngày là dùng được.

3. Ba kích tím tưởu giúp bổ dương lợi tiểu

Lấy 18g ba kích, 20g đương qui, 18g ngưu tất, 2g hạt tiêu, 27g khương hoạt, 27g sinh khương, 18g thạch hộc ngâm với 5 lít rượu. Rượu màu hanh vàng, có mùi thơm đặc trưng và vị cay ngọt.

Lưu ý khi sử dụng đương quy

Do đương qui có tính chất nhuận hoạt tràng nên đối với những người bị viên đại tràng ở thể hàn, phân thường xuyên nát không nên dùng. Những người bị thấp quá mức ở tỳ và vị, phân lỏng, ỉa chạy cũng không được dùng.

Cây Đương Quy cùng 31 bài thuốc, 3 món ăn và 3 cách ngâm rượu
5 (100%) (2) votes

Viết bởi: Đặng Đình Quyết

Tôi là Đặng Đình Quyết, đam mê về lĩnh vực cây thuốc nam giúp điều trị bệnh và tăng cường sức khỏe. Tôi hy vọng với các bài viết trên website này sẽ cung cấp cho mọi người những thông tin bổ ích về thảo dược và cách sử dụng thảo dược.

View all author posts →

Tin liên quan

Bình luận (2)

  • Linh Linh Trả lời

    Cảm ơn những chia sẻ của anh. Xin phép anh được chia sẻ nội dung bài đăng nhé.

    • Đặng Đình Quyết Đặng Đình Quyết Trả lời

      Dạ cảm ơn chị nhiều ạ, mong chị chia sẻ để nhiều người biết hơn về thảo dược này ạ